Bác nhớ Miền Nam, nỗi nhớ nhà.
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến,
lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa.
Bác vui như ánh buổi bình minh.
Vui mỗi mầm non, trái chín cành.
Vui tiếng ca chung hòa bốn biển.
Nâng niu tất cả chỉ quên mình.
Bác để tình thương cho chúng con.
Một đời thanh bạc, chẳng vàng son.
Mong manh áo vải hồn muôn trượng.
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
TT - Hàng trăm người Trung Quốc đã tụ tập tại Bệnh viện
ĐH Y dược Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, để đóng góp tiền ủng hộ cô
giáo Trương Lệ Lị - người bị nghiến nát đôi chân khi xả thân cứu học trò
của mình.
Cô Trương hiện đã thoát khỏi tình trạng hôn mê nhưng sức khỏe vẫn chưa ổn định - Ảnh: CNR
Tính đến 16g ngày 17-5, số tiền ủng hộ cô giáo 29 tuổi này đã lên đến 2,26 triệu nhân dân tệ (360.000 USD).
Lúc 8g38 ngày 8-5, một chếc xe khách lao thẳng về phía
hai em học sinh Trường THCS Giai Mộc Tư đang chuẩn bị lên xe buýt của
trường. Bất chấp nguy hiểm, cô Trương, đứng cách đó 1m, dùng thân mình
đẩy hai học sinh thoát chết. Còn cô...
Biết được câu chuyện xả thân cứu học trò của cô Trương,
hàng triệu cư dân mạng đã gọi cô là “cô giáo đẹp nhất”, và ngày 14-5 Bộ
Giáo dục Trung Quốc đã phong tặng cô danh hiệu “Nhà giáo ưu tú toàn
quốc”.
Hiện
nay cả nước đang thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã
có rất nhiều những tấm gương, điển hình về Làm theo lời Bác được tuyên dương.
Nhưng trong câu chuyện “ Ông Bụt mang quân hàm xanh” dưới đây nói về anh
Danh Trường Danh ở đồn Biên Phòng 754 Phú Quốc đã đăng trên báo Tuổi Trẻ sẽ cho
chúng ta thêm nhiều những sẽ chia về những việc làm của bản thân mính đối với
xã hội.
Năm năm trước, vuốt
mắt cho vợ chồng người đồng đội xấu số Dương Thành Ghi, anh đã nhận lời nuôi
hai bé Bảo và Chi. Khi nắm tay anh, nói lời trăng trối, cái thân hình khô đét,
không khóc nổi một giọt nước mắt của Dương Thành Ghi hẳn chỉ còn biết bấu víu
vào trái tim nhân ái cuối cùng của người đồng đội hiền lành. Cuối cùng, vì còn
ai nữa có thể dang tay cứu vớt cuộc đời bé bỏng tội nghiệp của hai đứa con anh
khi mà ngay cả họ hàng cũng xa lánh những đứa cháu máu mủ vì nỗi ghê sợ bệnh
tật...
Khi ấy Chi chỉ mới
ba tuổi, máu tuôn, mủ xì lỗ tai, thân thể lở loét vì căn bệnh chết người HIV lây
từ cha mẹ em. Ẵm đứa trẻ trên tay mà anh chẳng biết cuộc sống của gia đình mình
sẽ đi về đâu. Rồi khó khăn chồng chất khó khăn khi tiệm tạp hóa “kiếm cơm” của
vợ anh phải dẹp đi vì nỗi ghê sợ của chòm xóm lúc ấy. Tất cả chỉ còn trông mong
vào đồng lương còm cõi của anh lính biên phòng...
Năm năm qua đi, cháu
Bảo bây giờ đã học lớp 6, bằng tuổi con trai anh ngày ấy. Đứa con trai duy nhất
qua đời chỉ hai hôm sau khi anh tiễn biệt người đồng đội Dương Thành Ghi. Trong
nỗi đau tột cùng của người cha mất con, anh càng yêu thương hơn nữa Bảo và Chi
mồ côi tội nghiệp. Hai năm sau, vợ chồng anh sinh được bé gái Bích Ngọc.
Trong cái gia đình
nhỏ năm người ấy, những đứa trẻ lớn lên như anh em ruột thịt. Chị Chi tuy còn
bé nhưng đã biết cách giữ cho em khỏi lây bệnh. Anh Bảo thì học hành chăm
ngoan. Còn cha Danh cứ mỗi tháng lại vượt hơn 30 cây số đến bệnh viện lấy thuốc
cho Chi. Đồ con cởi ra, máu mủ lở loét tanh hôi vô cùng, vợ chồng anh thay nhau
giặt giũ, chẳng nề hà.
Cảm kích trước nghĩa
cử cao đẹp của Danh, Đồn biên phòng 754 Phú Quốc đã chắt chiu mỗi tháng 200
ngàn đồng góp cùng gia đình anh nuôi các cháu. Nhưng khổ nỗi đồn nghèo quá, chỉ
được ba tháng là hết tiền. Bà con chòm xóm cũng nghèo, mỗi lần đi biển về chỉ cho
các con anh được dăm ba cái tép con tôm. Vậy mà anh vẫn cười tếu táo “Không khó
khăn gì đâu, con nít nó ăn hết bao nhiêu mà khổ...”. Có người cám cảnh khuyên
anh mang cháu vào trung tâm chăm sóc cho đỡ cực thân. Nhưng nhìn đôi mắt trẻ
thơ trong trẻo anh đâu nỡ. Lý lẽ của anh chỉ đơn giản là “Có chết, con cũng
phải được nằm trong vòng tay tôi”...
Rồi cứ đến ngày giỗ
vợ chồng Ghi, một mình anh lại lo liệu lấy. Anh bảo: “Làm vậy để thằng Bảo lớn
lên lấy vợ còn nhớ mà thờ cúng ba má nó”. Người ta gọi anh là “ông bụt mang
quân hàm xanh” cũng phải! “Ông bụt” đã mang đến điều kỳ diệu cho cuộc đời Bảo
và Chi. “Ông bụt” chỉ xin ông bụt nào đó có thực trên cuộc đời này “hãy cho
những đứa con của tôi được sống khỏe mạnh...”. Ngay cả trước bàn thờ người đồng
đội chịu ơn mình, anh cũng chỉ khấn: “Mày phù hộ cho con cái tao không bệnh
tật, nếu không tao không cúng cơm mày nữa đâu”...
Rồi năm tháng cũng
qua đi, năm tháng làm dịu những nỗi đau. Anh Danh cũng biết rằng cuộc sống của
bé Chi vô cùng ngắn ngủi. Nhưng mỗi phút giây con khỏe lên, đến trường cùng
chúng bạn, trong lòng anh lại ngập tràn niềm tin vào những điều kỳ diệu. Còn
với Bảo, mai này lớn lên em sẽ gặp được nhiều trái tim nhân hậu khác nữa. Nhưng
có lẽ Bảo sẽ mãi biết ơn “trái tim nhân ái cuối cùng” của cha Danh đã an ủi
tuổi thơ bất hạnh của mình.
Mỗi khi nhắc đến cô Trần Thị Thơm, các
bạn trường Ernst Thalmann (Q.1, TPHCM) lại tự hào kể về cô giáo của mình.
“Lửa”
từ bục giảng
Cô
là giáo viên dạy văn, môn học được xem là dễ… “gây mê” nếu giáo viên thiếu
“lửa”. Những ngày đầu đứng lớp, cô đã không tránh khỏi điều này. Buồn khi thấy
trong tiết học của mình, học trò cứ để tâm trí… bay tận đâu đâu, cô quyết tâm
thay đổi phương pháp dạy. Bằng cách đưa vào bài giảng những câu chuyện có thật
từ cuộc sống đời thường, cô đã chỉ cho học trò thấy được mối quan hệ giữa văn
và thực, giữa nhân vật tưởng tượng và con người bằng xương bằng thịt. Tấn Sang
(lớp 11A1) kể: “Nhân vật Chí Phèo của thế kỉ trước trở nên gần gũi với tụi mình
hơn khi được cô liên hệ với một bộ phận thanh niên hư hỏng ngày nay. Họ - nếu
không được quan tâm, tiếp sức, sẽ khó vượt qua hình ảnh quỉ dữ để làm lại cuộc
đời. Bài giảng của cô gợi cho tụi mình suy nghĩ về thái độ cư xử đối với những
người lầm đường lạc lối”... Ngoài giờ học, cô thường tổ chức cho học trò đến
thăm các mái ấm, nhà mở… Những trải nghiệm từ đời sống thật không chỉ giúp các
bạn trang bị vốn sống mà còn có thêm nhiều bài học làm người…
Khi
cô là bạn Cát Huy
(lớp 12A4) tâm sự: “Có lần, cô kể cho tụi mình nghe câu chuyện về tấm lòng nhân
ái của Bác Hồ. Khi ấy, tụi mình cứ nghĩ đó là cách cô giúp học trò thư giãn
trong giờ học. Nhưng khi chứng kiến những việc cô làm, tụi mình chợt nhận ra
câu chuyện ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến cách sống của cô”. Đó là việc cô âm thầm
theo dõi và phát hiện nguyên nhân khiến bạn N (lớp 11A1) thường xuyên đến lớp
trễ, không thuộc bài là do phải đi bán chuối chiên phụ giúp gia đình. Hiểu
chuyện, cô trích một phần tiền lương ít ỏi của mình giúp bạn đóng học phí
(nhưng lại nói là do nhà trường hỗ trợ); rồi động viên bạn tới nhà để cô dạy
kèm miễn phí. Đó còn là việc cô tìm đường đến tận nơi ăn chơi của những học trò
lêu lỏng để tỉ tê, khuyên nhủ...
Việc làm thầm lặng của cô đã khơi dậy niềm lạc
quan, yêu đời đối với những học sinh cá biệt, giúp các bạn ấy “lột xác” thành
những người sống đẹp, như cách cô đang sống. Là trợ lí thanh niên, cô
thích “nghía” xung quanh để phát hiện những “ngôi sao học trò” trên các lĩnh
vực để tìm cách bồi dưỡng năng khiếu. Còn nhớ trong Đêm hội văn hoá diễn ra ở
trường, bên cạnh các ca sĩ chuyên nghiệp, cô đã mạnh dạn tạo điều kiện cho dàn
ca sĩ “cây nhà lá vườn” biểu diễn trong một chương trình có bán vé. Và cô đã
không nhìn lầm người. Được cô tin tưởng, các ca sĩ học trò đã biểu diễn hết
mình, góp phần thu về cho trường số tiền 30 triệu đồng để gây quĩ hỗ trợ học
sinh nghèo, xây dựng một căn nhà tình thương ở Vĩnh Long. Thương học trò,
cô cũng được không ít học trò thương. Thế nên, ngày 20/11 cô thường nhận được
rất nhiều hoa. Nhưng cách đây ba năm, cô quyết định… từ chối nhận hoa và khuyên
học trò của mình hãy sử dụng tiền mua hoa để giúp những người có hoàn cảnh khó
khăn. Cô bảo: “Nghĩa cử đẹp của các em mới là món quà mà cô muốn nhận”. “Sự
kiện” lần đó cũng mở đầu cho một hoạt động mới của nhiều bạn học sinh trường
Ernst Thalmann: tiết kiệm tiền đóng góp vào quĩ Vì người nghèo, quĩ Hỗ trợ nạn
nhân bị chất độc da cam... Có lẽ giáo viên, học sinh trường Ernst
Thalmann không ngạc nhiên khi biết tin cô Thơm đoạt giải nhất tại hội thi “Kể
chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Thành uỷ TPHCM tổ chức (tháng 6/2008).
Bởi lẽ cô không chỉ kể chuyện mà từ lâu đã “theo gương Bác” bằng chính cách
sống của mình. Và tin giáo viên Trần Thị Thơm trở thành ứng cử viên trong cuộc
vận động bình chọn Công dân trẻ tiêu biểu TPHCM năm 2008 của Thành Đoàn hẳn sẽ
là tin vui đối với những ai từng yêu mến, tin tưởng cô.
Có
một người phụ nữ đã hết lòng chăm lo cho những đứa trẻ bị bệnh thiểu năng trí
tuệ va luôn cầu mong cho những đứa trẻ ấy khôn lớn nên người để bớt đi gánh
nặng trên đôi vai những đấng sinh thành. Người phụ nữ ấy chính là cô giáo
Nguyễn Thị Tuyết Hồng, giáo viên Trường Tiểu học Nguyễn Thái Học, quận 1,
TP.HCM. Bao năm qua, học sinh ở ngôi trường này đã thân mật gọi cô bằng cái tên
trìu mến: mẹ Hồng.
Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều
năm, người mẹ ấy đã trăn trở với nỗi niềm là “không có trẻ không học được, chỉ
có môi trường và phương pháp giáo dục chưa phù hợp”. Với kiến thức được học về
giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, đồng thời được sự động viên khích lệ từ Ban
giám hiệu nhà trường, cô đã tìm tòi đúc kết những kinh nghiệm để dạy học sinh
“chậm phát triển trí tuệ”. Trước kia những em mắc bệnh này thường được đưa vào
những trường đặc biệt, bị tách riêng, không hòa nhập được cuộc sống bình
thường, và lĩnh hội rất ít các kỹ năng của xã hội. Từ đó đã vô tình đưa nhiều
trẻ vào cách sống thụ động, khép kín, đánh mất tính năng động tự có của tuổi
thơ. Do nhu cầu thực tế nhiệm vụ giáo dục hòa nhập là một xu hướng tất yếu của
thời đại, xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm, cô đã mày mò nghiên cứu tìm ra
giải pháp đưa những em học sinh thiểu năng trí tuệ hòa nhập cộng đồng.
Lúc đầu cô cũng gặp không ít khó
khăn, dần dần cô đã từng bước khắc phục bằng cách làm rất khoa học là xác định
những đặc điểm chung của các em về chậm phát triển trí tuệ: đặc điểm về tri
giác, về tư duy, về trí nhớ, về sự chú ý và đặc điểm về hành vi. Rồi tiếp tục
xác định nhu cầu về học tập của các em và khả năng tiếp thu… từ đó để có những
giải pháp khắc phục từng mặt còn hạn chế. Cô bắt đầu bổ sung những khiếm khuyết
về đọc để các em có thể ghi nhớ, khi các em đã được bổ sung những hạn chế cô
bắt đầu dạy về viết và toán học.
Không những dạy cho các em học
mà cô dạy các em trở thành công dân nhỏ có ý thức, trở thành con ngoan trò
giỏi. Cô còn chăm sóc học sinh từng miếng ăn giấc ngủ, gần gũi bày tỏ giúp các
em học ngoan, vui chơi tốt… Cô đã mang lại một sức sống cho những học trò của
mình, đặc biệt là những em thiểu năng trí tuệ, tiến bộ vượt bậc. Và cô đã trở
thành người mẹ thứ hai của những học sinh kém may mắn.
Cô giáo Bùi Thị Nhung (28
tuổi) vốn dạy ở Trường tiểu học Suối Cát, xã Suốt Cát, còn chồng cô là anh
Đặng Thanh Chương, công nhân Xí nghiệp cát trắng Cam Ranh, Khánh Hòa. Hai vợ
chồng có một đứa con gái xinh xắn là cháu Đặng Bùi Phương An cùng một mái nhà
nhỏ yên bình. Cuộc sống sẽ cứ thế trôi đi, nếu không có một ngày tình cờ cô
giáo Nhung nghe chuyện đảo Trường Sa đang có nhiều cháu nhỏ thất học.
“Hồi đó mình trăn trở lắm, mình cũng là
mẹ, lại là cô giáo. Biết các cháu nhỏ theo bố mẹ sinh sống ở đảo mà thất học
thì tội lắm. Đảo Trường Sa lại thuộc Khánh Hòa nên mình muốn có cái gì đó đóng
góp cho quê hương nên mới xin ra đây dạy học”, cô giáo Nhung kể với chúng tôi.
Nhưng chuyện xin ra đảo dạy học, ban đầu
cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt của gia đình. “Mình là người có gia đình,
ra đảo thì chồng con một nơi, mình một nơi cũng khó. Mà mang theo cả chồng,
biết làm gì, con cái liệu có sống nổi với khí hậu khắc nghiệt ở Trường Sa
không, mình day dứt lắm”, cô Nhung tâm sự.
Trăn trở, day dứt của cô giáo Nhung thật
may lại được sự đồng cảm, chia sẻ từ phía chồng. “Nghe vợ bảo đi ra đảo, ban
đầu mình cứ tưởng là đùa. Nhưng khi nghe ý định nghiêm túc của vợ, mình cũng
suy nghĩ và ủng hộ vì mình hiểu cô ấy hơn ai hết. Lúc đó mình chỉ nói một câu,
ở trong đất liền thì lương anh đủ để nuôi em và con, còn ra đó thì em nuôi anh
nhé”, anh Chương nửa đùa nửa thật khi nhớ lại ngày xin ra đảo dạy học. Bố mẹ
của hai gia đình khi hiểu hết tấm lòng của hai vợ chồng trẻ cũng không ngăn cản
nữa, chỉ dặn mỗi câu: “Đã đi thì phải sống hết mình nơi quê hương mới”.
Mỗi ngày 4
“sô”, 5 lớp
Từ ngày ra đảo dạy học, một mình cô Nhung
phụ trách 12 cháu nhỏ đủ các lứa tuổi, từ mầm non cho đến lớp 4. Một ngày cô
dạy 4 “sô”, cả sáng lẫn chiều. Lúc thì dạy tập đọc, tập viết cho học sinh mẫu
giáo, lúc dạy văn, dạy toán cho các em lớp 2, lớp 3, lớp 4. “Mình soạn giáo án
đủ 9 môn cho học sinh lớp 2, lớp 3 và 11 môn cho học sinh lớp 4. Ở đây chỉ còn
môn thể dục là mình không dạy thôi vì khí hậu khắc nghiệt ở Trường Sa tự thân
cũng đã là một môn học quá nặng cho các em rồi”, cô Nhung cho hay.
Dạy học, soạn giáo án cho đến làm đề thi,
kiểm tra học kỳ và cho các cháu lên lớp, cô Nhung phụ trách tất. Nhiều đêm cô Nhung
phải thức đến tận 2, 3 giờ sáng để soạn giáo án cho các lớp, mà mệt nhất là
giáo án về môn văn. Không như trong đất liền, những hình ảnh minh họa luôn
phong phú, thậm chí các em có thể đi thực tế để hiểu, nắm bắt vấn đề rõ hơn.
“Học ở đảo nên các cháu không có điều
kiện tiếp xúc thực tế nhiều. Các cháu không được đi chơi công viên, sở thú, đi
xem phim, tham quan thắng cảnh. Bài tập làm văn các cháu làm luôn phải là một
sự tưởng tượng của riêng mình”, cô Nhung kể. Những cánh đồng lúa chín, cây đa,
đình làng, con trâu, cái cò… vốn dĩ thân quen, gần gũi với bọn trẻ trong đất
liền thì với bọn trẻ ở đảo chúng chỉ biết qua sách vở.
Cũng may gần đây Trường Sa đã có thể xem
được tivi, nên bọn trẻ có thể nhận thức được những gì cô giáo Nhung muốn truyền
đạt. Nói là vậy, đời sống tâm hồn của bọn trẻ ở đảo theo quan sát của chúng tôi
còn rất thiếu thốn. Mùa hè, chúng thường lấy trò chơi lượm ốc, san hô về rải
quanh nhà làm trò chơi bán hàng, nhưng mùa đông thì chỉ quanh quẩn trong nhà vì
thời tiết ngoài đảo rất khắc nghiệt.
Mỗi "lớp" của cô Nhung chia thành một
cụm, quay lưng vào nhau
Ghế
đu là trò chơi duy nhất của các cháu nhỏ trên đảo
Cô
Nhung cho biết, lũ trẻ ở Trường Sa được cái rất ham học. Ở đảo, không có nhiều
thứ để chơi nên hầu hết đứa nào cũng thích đi học, vì mỗi giờ học chúng tìm
thấy niềm vui. Để chương trình học của các cháu không bị lạc hậu, cô Nhung
thường phải liên lạc về đất liền xin đồng nghiệp giáo án, sách vở và cả đồ
chơi.
Tất
cả 12 học trò của cô giáo Nhung, đứa nào cũng học khá, thậm chí cháu Nguyễn
Thanh An, học sinh lớp 4 - cũng là cậu học trò lớn tuổi nhất trong bọn trẻ
- thì 4 năm liền đều đạt loại giỏi. “An nó siêng học lắm, nhưng điều kiện học ở
đảo không tốt bằng đất liền nên bố mẹ cháu dự định tốt nghiệp lớp 5 sẽ cho cháu
vào đất liền. Ở đây cũng có hai, ba cháu học khá bố mẹ đều đã cho vào đất liền
học tiếp rồi”, cô Nhung cho biết.
Vất
vả, khó khăn nhưng cô Nhung chưa bao giờ thấy lựa chọn của mình là sai lầm, bởi
ở đảo cô có một mái ấm yên bình, có người chồng thương yêu vợ hết mực cùng đứa
con gái xinh xắn. “Ở đây bọn em cũng rất được các anh chiến sĩ cũng như lãnh
đạo ở thị trấn Trường Sa quan tâm. Cả đảo như một mái nhà chung cho mọi người,
lại thường xuyên nhận được hỏi han, động viên từ trong đất liền”, cô Nhung nói
tiếp.
Mong
ước duy nhất của cô Nhung hiện giờ là có một chiếc máy vi tính cùng máy in, để
việc soạn giáo án, ra đề thi đỡ mệt hơn, thay vì cứ mỗi lần kiểm tra học kỳ cô
lại ra ủy ban thị trấn đánh nhờ đề thi. Thế nhưng, mong ước vậy nhưng cô vẫn
bảo với chúng tôi đừng xem đó là yêu sách, đòi hỏi, vì cô vẫn luôn khẳng định
mình chưa đóng góp được gì nhiều cho vùng biển đảo thiêng liêng của tổ quốc.
Thấy những người 1 thời lầm lỗi sau thời gian hồi gia vẫn tỏ
ra rụt rè, không dám tiếp xúc với láng giềng xung quanh, Chung chợt nghĩ :”Trên
địa bàn có tới 16 người tái hòa nhập cộng đồng, nếu cứ đế các anh chị ấy sống
tách biệt, tự cô lập như thế, e có lúc họ sẽ quay về đường cũ”. Mang nỗi lo của
mình trình bày với các cô chú cán bộ phường, đồng thời đề xuất ý tưởng thành lập
CLB Những người bạn, Chung mừng hết lớn
khi được mọi người ủng hộ nhiệt tình. Ngày ra mắt CLB cũng là lúc chủ nhiệm
Chung toát mồ hôi với công việc “khó nuốt” : vận động người hồi gia đến với
CLB.
Cứ đều đặn mỗi ngày, Chung tranh thủ thời gian “tấp” vào từng
nhà, trước hết là tiếp xúc với gia đình để nắm được tình hình và gây cảm tình,
sau mới lân la làm quen với đối tượng. Thấy “cậu này lễ phép và dễ mến quá!”,
những “người lạ” không còn cảm giác bị cộng đồng xa lánh nữa, sẵn sàng trải
lòng tâm sự thật tình. Gặp anh T rỗi rảnh hay đi loanh quanh trong xóm, Chung
chủ động “tấn công” liền :”Tiệm báo ở đầu ngõ đang cần người giao báo. Em đã xí chỗ cho anh rồi. Sáng mai, em giới
thiệu anh với chủ tiệm bắt đầu làm luôn nha!”. Đang thất nghiệp bỗng có việc
làm đàng hoàng để kiếm thu nhập phụ giúp gia đình, anh T xúc động đến nghẹn lời.
Ngoài liên hệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh ở đại bàn.
Chung còn chịu khó lên mạng tìm kiếm thông tin tuyển dụng để “săn” các công việc
như : giao hàng, sửa xe, chăm lo hàng quán… nhằm giới thiệu cho những người đang
mong làm lại cuộc đời. Chung tâm sự :”Mình tin nếu có nghề nghiệp ổn định, các
anh chị ấy sẽ tự tin hơn khi hòa nhập cộng đồng, không còn thời gian nghĩ ngợi
lung tung nữa”. Sau bao ngày lăng xăng, cuối cùng nỗ lực vì mọi người của Chung
đã được đền đáp khi từng thành viên của
CLB Những người bạn đã tìm được
công việc thích hợp. Còn nhớ, ngày anh D được nhận vào làm ở 1 công ty nước
ngoài, không chỉ Chung mà cả CLB Những người
bạn đều “hết hồn”, không giấu được niềm vui sướng. Lời chúc mừng khắp nơi
bay về, nhưng Chung lại “bào chữa” :”Mình chỉ là người giới thiệu, còn được tuyển
vào làm là do nỗ lực của anh D đó chứ?”. Chung là thế đó, lúc nào cũng tìm cách
“né” những lời khen tặng, dù bạn xứng đáng được như thế!
Sinh ra và lớn lên ở miền Bắc nên Đào Minh Hải (sinh viên ĐHSG)
có nhiều dịp viếng thăm các khu tích về Bác. Qua những chuyến tham quan ấy, “Nhà sàn Bác Hồ”
là nơi đọng lại trong Hải nhiều ấn tượng sâu sắc nhất. Bạn kể, ngôi nhà của Bác
chủ yếu làm từ tre với vài căn phòng nhỏ đơn sơ. Để tiết kiệm diện tích, Bác tận
dụng vách ngăn giữa hai phòng thiết kế giá sách, lót ván lên các bậc thang để
làm băng ghế ngồi… Tất cả những hình ảnh ấy gợi cho Hải suy nghĩ về lối sống
bình dị, tinh thần tiết kiệm mà trước đây bạn
ít khi nghĩ đến.
Nếp sinh hoạt của Hải dần thay đổi, bắt đầu từ những việc
làm thường ngày. Bộ quần áo đi học thay vì sử dụng 1 lần thì nay bạn cố giữ sạch
để có thể mặc 2 lần nhằm tiết kiệm thời gian giặt giũ. Trong học tập, Hải chỉ
mua những quyển sách hay tài liệu thật sự cần thiết, còn lại thì mượn thư viện,
bạn bè để photo hoặc chịu khó ghi chép lại…. Nhiều người thắc mắc gia đình Hải đâu
có khó khăn, sao phải cân nhắc kĩ lưỡng khi chi tiêu cho khổ thân. Hải cười hiền
bảo : “Sống giản dị để có thể chia sẻ với nhiều người khác”.
Không chỉ thay đổi bản thân, Hải còn kêu gọi bạn bè cùng tiết
kiệm. Chẳng hạn, trước kia nhóm của Hải thường có thói quen đi du lịch, cắm trại
vào dịp lễ nên mọi chi phí đều cao, lại mất thời gian di chuyển do kẹt xe. Gần đây,
Hải cùng mọi người nhất trí sắp xếp thời gian đi khám phá, thư giãn vào ngày thường
sao cho không ảnh hưởng đến lịch học; điểm đến tuy gần hơn nhưng không ảnh hưởng
đến chất lượng cuộc chơi. Đặc biệt, để kết hợp giữa chơi và học, Hải tìm cách lồng
vào chương trình những tiết mục thi thố hay đố vui có thưởng. Ngoài ra, những lần
đi xem văn nghệ ở trường, thấy trong cánh gà thường có nhiều bó hoa bị vứt khắp
nơi thật lãng phí, Hải quyết định viết thư ngỏ gửi tới từng lớp để nhắn nhủ :”Hoa
đẹp nhưng rồi sẽ tàn và cũng phải bỏ đi. Thay vì mua hoa, các bạn nên dùng số
tiền ấy hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn”. Và thế là phong trào “biến
hoa thành quỹ” nhanh chóng lan rộng, tạo điều kiện cho Hải cùng nhóm bạn có
cùng tâm huyết thực hiện những chuyến viếng thăm, tặng quà cho trẻ em nghèo ở
mái ấm Q.8, Trung tâm Bảo trợ Nuôi dưỡng Trẻ em Q.Gò Vấp…
Để thể hiện lòng tôn kính với Bác Hồ, suôt thời gian dài, Hải
đã cất công sưu tầm về Bác hệ thống “tài sản” của mình thành chuỗi sự kiện gắn
với cuộc đời – sự nghiệp của Bác. Cách sưu tầm của hải là góp nhặt những con
tem có hình Bác từ các bức thư mà gia đình, người thân gửi từ Bắc vào, đến tiệm
sách cũ tìm mua các quyển tạp chí chuyên về tem rồi cắt tem có hình Bác,… Sau đó,
Hải thực hiện việc cắt dán, trang trí để cho ra đời album tem đặc biệt.
Chưa dừng lại ở đó, Hải còn cất công đi đến các tiệm mộc gỗ
xin gỗ vụn về đục đẽo làm mô hình “Nhà sàn Bác Hồ” với thông điệp gửi đến mọi
người :”Tiết kiệm không phải là biểu hiện của lối sống khắc khổ mà để hoàn thiện
nhân cách, là tiêu chí đánh giá 1 dân tộc văn minh, cao thượng”…
Thầy giáo NGUYỄN VĂN CẢI Giáo viên trường THPT Quang Trung, huyện Củ Chi, TPHCM
LỚN LÊN TỪ RAU, ỐC VÀ NHỮNG TẤM LÒNG. “Tôi quan tâm… bởi tôi đã từng được quan tâm”
Đến Củ Chi dò đường
tìm hỏi nhà thầy Nguyễn Văn Cải, chúng tôi không ngạc nhiên lắm khi
thấy người dân ở ấp Phước An, xã Phước Thạnh dọc tỉnh lộ 7 ai ai cũng
biết về thầy. Bởi lẽ ở vùng quê nghèo này, thầy chính là một tấm gương
sáng về lòng hiếu thảo và tinh thần hiếu học.
Gặp thầy Cải vào
thời điểm chuẩn bị cho năm học mới thật khó bởi bao công việc cứ vây
quấn lấy thầy. Thầy giáo Cải hiện là giáo viên dạy văn của trường Quang
Trung, huyện Củ Chi, ngôi trường nằm ở vùng sâu nhưng tỉ lệ học sinh đỗ
tốt nghiệp vừa qua đạt 98,61%.
Người học trò nghèo hiếu thảo
Ngay
từ lúc lọt lòng đã không biết mặt ba là ai, mẹ lại mắc bệnh tâm thần.
Cải sống cùng mẹ và chị trong căn chòi lá của bà cố để lại ở tổ 2, ấp
Lào Táo Trung, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Có thể nói tuổi thơ của
Cải là sự tiếp nối của chuỗi tháng ngày dài cơ cực, vất vả và thiếu
thốn. Chị gái đã phải nghỉ học khi vừa lên lớp năm để đi làm thuê kiếm
sống. Riêng Cải tuy vất vả với bao công việc để kiếm tiền xoay xở áo
cơm nhưng quyết tâm học để sau này giảm bớt cái nghèo cho gia đình.
Sáng nhổ mạ, cấy lúa; chiều trỉa đậu, nhổ đậu; mùa hè đêm ngủ ngoài
đồng, đi chăn vịt mướn, là một trong số những “nghề” mà cậu bé Cải trải
qua trong tuổi thơ của mình.
Yêu nghề giáo từ một kỷ niệm
Trong buổi giao lưu với các em
học sinh, thầy giáo Nguyễn Văn Cải luôn bồi hồi khi nhắc đến những kỷ
niệm tuổi thơ nghèo khó và hình ảnh cô giáo Hằng tận tâm lo cho mình đi
học
Trong cuộc đời khốn khó, Cải có những cột mốc, những sự kiện tạo nên những bước ngoặt khiến anh không thể nào quên.
Sinh
năm 1977nhưng đến năm 1980 Cải mới vào lớp một. Do mẹ bệnh Cải phải học
trễ ba năm. Vậy mà đến khi chuẩn bị lên lớp bốn, cơ hội để Cải đến
trường hầu như… bế tắc khi thì mẹ trở bệnh nặng, chị gái cũng vì bệnh
mà thất nghiệp. Cải bồi hồi nhớ lại: "Tôi nhớ như in cái ngày tựu
trường năm lớp 4, tôi không đến trường mà nằm ở nhà khóc sưng mắt. Buồn
lắm, nhưng chị bệnh, mẹ bệnh, cả gia đình phải thường xuyên ăn củ mì,
rau chóc, rau chồn, gạo còn không có ăn thì lấy đâu ra tiền để đóng học
phí. Ngày nhập học, đó là ngày 04.09, không thấy cậu học trò Nguyễn Văn
Cải đến lớp, cô Trần Thị Hằng - chủ nhiệm mới, sau khi tìm hiểu hoàn
cảnh đã nhắn tôi đến trường. Cô dùng tiền lương để đóng học phí cho
tôi, mua thiếu dụng cụ học sinh cho tôi. Cô lại mượn (lẽ ra phải mua
hoặc thuê) sách giáo khoa của trường cho tôi học …”
Anh kể tiếp: “Cô giáo Hằng là hàng
xóm của tôi. Tôi biết nhà cô nghèo, chồng thất nghiệp. Cô phải một buổi
đi dạy, một buổi đi làm thuê nuôi chồng, con. Kể từ lần được cô giúp
đỡ, tôi như được “đổi đời”, không có cô chắc tôi đã phải nghỉ học”.
Hình
ảnh cô giáo Hằng cao đẹp đã thắp lên trong lòng Cải tình yêu nghề sư
phạm sâu sắc. Kể từ giây phút đó, Cải tâm nguyện phải học cho thật
giỏi, lớn lên làm giáo viên để giúp đỡ học sinh gặp khó khăn như cô
Hằng đã từng giúp anh. Lòng anh tự nhủ phải học và học với quyết tâm
sắt đá.
Mười năm học bên ngọn đèn dầu và đậu ba trường đại học
Kể
về Cải của ngày xưa, thầy Lê Đình Hoe, hiệu trưởng trường THPT Quang
Trung, từ năm 1989 đến nay, cho biết: “Đến giữa năm lớp 10, nhà trường
mới phát hiện trường hợp khó khăn của Cải. Chúng tôi không thể nào kềm
lòng trước hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của em. Mẹ thì bệnh tâm thần.,
chị đã lập gia đình nhưng cũng rất nghèo và mang bệnh. Cải phải làm đủ
thứ việc để lo cuộc sống, vừa giúp mẹ, chị vừa nuôi bản thân ăn học.
Khi chúng tôi đến thăm thì thấy Cải cùng gia đình phải dọn ra ở trong
một mái nhà tranh nhỏ vì căn nhà tình thương của gia đình cũng sắp sập.
Trong nhà hoàn toàn không một vật dụng nào đáng giá. Cải phải sử dụng
cái giường đóng nẹp tre làm bàn học. Chỗ ở của em không phải là nhà mà
là cái chòi thì đúng nghĩa hơn. Trong khi mọi hộ gia đình chung quanh
đều có điện sử dụng thì gia đình Cải chỉ thắp đèn dầu, và Cải đã mười
năm trời học tập dưới ánh đèn dầu đó”.
Nghe thầy Cải (thứ hai từ trái
qua) kể về tuổi thơ vất vả mà thầy đã trải qua, các em học sinh trường
THPT Bình Khánh đồng cảm nhiều với thầy vì phần lớn các em có hoàn cảnh
khó khăn và phải lao động phụ giúp gia đình
Cảm thương người học trò giỏi, tuy
nghèo mà hiếu học, các thầy cô trường Quang Trung bàn tính cách hỗ trợ.
Nhân dịp trường thay đường dây mới, nhà trường đã lấy dây cũ, mua bóng
đèn và các thiết bị cần thiết đồng thời xin ban quản lý ấp miễn tiền
điện thế chân để mang “ánh sáng” về cho Cải. Và cũng từ đó, Cải được
nhà trường miễn 100% tiền học phí.
Thế rồi không phụ lòng đùm
bọc, cưu mang của bà con lối xóm, của thầy cô, của bạn bè, Cải đã phấn
đấu học tập và tham gia các hoạt động phong trào rất tích cực. Suốt 12
năm học phổ thông, Nguyễn Văn Cải luôn đạt học sinh giỏi và nhiều năm
đứng nhất lớp và hai năm làm Bí thư Đoàn trường. Đến kỳ thi đại học,
Cải đậu vào ba trường đại học: Trường đại học Sư phạm TPHCM , trường
Đại học Luật và trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn.
Đứng
trước những ngã rẽ cuộc đời, Cải suy nghĩ nhiều lắm. Cuối cùng, Cải
quyết định chọn đại học Sư phạm làm con đường đi cho mình. Hình ảnh cô
giáo Hằng, chủ nhiệm năm lớp 4 cùng với tấm lòng cưu mang dạy dỗ của
các thầy cô đã xây dựng nên trong tâm hồn và suy nghĩ của Cải sự cao
quý của nghề dạy học. Cải quyết định sẽ tiếp bước con đường của thầy cô
để trở thành một thầy giáo, sau này về dạy lại con em của quê hương
mình như là cách đền đáp một phần công lao của thầy cô đã giúp đỡ cho
anh từ thời tiểu học.
Trò chuyện với các em học sinh
trường Trung Phú - Củ Chi, những tâm tình của thầy Cải được các em cảm
nhận sâu sắc "phải học thật tốt để mai này làm việc góp sức xây dựng Củ
Chi anh hùng của chúng ta tiến bộ cùng sự phát triển của thành phố Hồ
Chí Minh"
Cuộc đời của Cải bắt đầu một trang
mới. Anh rời làng quê với lòng quyết tâm đi tiếp con đường mà mình mơ
ước. Hành trang theo anh là kí ức về những năm tháng nhọc nhằn không
bao giờ có thể quên và những tấm lòng nhân ái đã luôn nâng đỡ mỗi khi
anh sắp gục ngã. Lúc ấy có nhiều bài báo đã viết về anh như một tấm
gương điển hình của tinh thần vượt khó học tập. Nhà báo Tố Oanh gọi
“Nguyễn Văn Cải - lớn lên từ rau, ốc và những tấm lòng”. Báo Người Lao
Động lại viết về anh “Cậu bé chăn trâu với ước mơ trở thành thầy giáo”.
Tất cả những sự ví von, hình ảnh đó đều đúng với anh. Anh đã từng trải
qua thời kì nhiều ngày không có gì để ăn. Cả gia đình phải ăn độn bằng
rau chốc, rau chồn với khoai mì và cua đồng… để trừ cơm. Được hàng xóm
cho một tô cơm cháy chị anh đã nghĩ ra cách dùng tô cơm ấy nấu cháo để
cả gia đình cùng ăn. Và cũng những năm tháng còn là cậu học sinh tiểu
học Cải đã đi ở đợ, chăn trâu, kiếm miếng cơm bỏ bụng.
Rời làng
quê nhưng anh luôn mong ngày trở lại để thực hiện những gì mình đã tâm
niệm, để báo đáp những tấm lòng mà từ đó anh lớn lên.
Trở về mái trường xưa…
Thầy giáo Nguyễn Văn Cải (trái) và thầy hiệu trưởng trường THPT Quang Trung
Để
đến được cổng trường tiểu học và trung học đối với Cải đã là vô cùng
cam go nhưng để đi hết được những năm tháng đại học Cải ại càng cơ cực
gấp bội phần. Lúc Cải học đại học, mẹ lại trở bệnh. Được sự giúp đỡ của
đồng chí Nguyễn Hoàng Năng, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội TP. Hồ Chí Minh, mẹ Cải đã được vào bệnh viện Biên Hòa chữa bệnh
không tốn tiền.
Kể về những tháng năm ngồi ghế giảng đường, thầy
giáo Cải cho biết: “Tôi cảm thấy may mắn hơn các bạn khác bị tật
nguyền, mồ côi vất vả không nơi nương tựa, không được đến trường. Năm
1999, tôi vào đại học, thông qua Đoàn trường Quang Trung và Sở Giáo dục
- Đào tạo có giới thiệu nhận học bổng khuyến tài của thành phố, khi ấy
có năm sinh viên được nhận 1.200.000đ/học bổng và cấp trong suốt quá
trình học đại học. Khi vào đại học, anh chị phân công tôi là Phó Bí thư
Đoàn trường kiêm chủ tịch Hội sinh viên. Ngoài việc học tập, nghiên cứu
khoa học, tôi cũng tham gia phong trào tổ chức xây dựng Đoàn, Hội; quan
tâm đến việc giúp đỡ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Tôi được đi học
là từ tập thể thầy cô, bạn bè. Cho nên, khi đi học, tôi có thể làm
được cái gì cho tập thể là sẽ làm hết sức mình. Khi tốt nghiệp đại học,
nhiều nơi mời gọi làm việc nhưng tâm nguyện của tôi, ở nơi nào mình
cũng làm công tác giáo dục, ở nơi nào mình cũng có điều kiện giúp đỡ
học trò. Tôi nghĩ, quê mình còn nghèo lắm, còn rất nhiều các em học
sinh gặp khó khăn nên tôi quyết định quay về ngôi trường xưa Quang
Trung, để cùng với thầy cô cũ làm công tác giúp đỡ các bạn nghèo có
điều kiện đến trường”.
Thế là gạt bỏ tất cả những lời mời, những
cơ hội mang đến cuộc sống thoải mái hơn cho mình, người học trò nghèo
Nguyễn Văn Cải, bây giờ là thầy giáo Nguyễn Văn Cải, trở về mái trường
xưa, ngôi trường Quang Trung ở huyện Củ Chi, để mong cống hiến sức mình
cho nơi đã yêu thương đùm bọc mình.
Ngay năm đầu
tiên về, thầy Cải vừa dạy Văn vừa làm trợ lý thanh niên. Tiếp nối
truyền thống của thầy cô về việc giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học cũng
như qua sự trải nghiệm bản thân vươn lên từ nghèo khó, Cải đã thành lập
Câu lạc bộ Khuyến tài cho Hội Khuyến học TPHCM cũng như tham mưu trực
tiếp cho thầy Lê Đình Hoe, hiệu trưởng trường Quang Trung thành lập Hội
Khuyến học trường THPT Quang Trung.
Chính thức thành lập vào
tháng 12-2002, Hội Khuyến học trường THPT Quang Trung là Hội Khuyến học
cấp trường đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh. Đây là ngôi trường chăm lo các em
học sinh nghèo hiếu học từ sự vận động các Mạnh Thường Quân, kể cả du
học sinh ở nước ngoài và thầy Nguyễn Văn Cải là một trong những người
nhiệt huyết nhất của Hội.
Thầy Cải tâm sự: “Từ lúc còn là học
trò, tôi đã quan tâm đến việc giúp bạn vượt khó. Có phong trào này sẽ
giúp các bạn khó khăn cùng vươn lên như tôi. Nếu không có sự hỗ trợ này
các em sẽ bỏ học ngay thời phổ thông. Kết quả bước đầu cho thấy, nhờ sự
hỗ trợ của Hội khuyến học nhà trường, nhiều em vượt qua khó khăn, thi
đỗ vào đại học như: Trần Thị Liên, Trần Lê Trung Hiếu... “.
Mô
hình Hội Khuyến học cấp trường đầy ý nghĩa và mang tính thiết thực này
đã nhận được sự ủng hộ rất lớn từ thầy cô, cán bộ trong nhà trường đến
các Việt kiều, các tổ chức trong và ngoài nước, các nhà hảo tâm khi
biết được thông tin qua báo chí. Kể từ khi thành lập (năm 2002) đến
nay, Quỹ đã xây dựng được 13 căn nhà tình thương dành cho học sinh
nghèo của trường, cấp học bổng hơn 500 triệu đồng cho khoảng năm trăm
học sinh, tặng 20 chiếc xe đạp và dụng cụ học tập, quà lễ, tết….Đó
chính là nguồn động viên tinh thần để cho các em có hoàn cảnh khó khăn
an tâm học tập tốt.
Trở về trường xưa, thầy giáo Nguyễn Văn Cải
không chỉ chăm lo cho hoạt động chuyên môn mà còn rất nhiệt tình, năng
nổ tham gia mọi hoạt động để xây dựng trường, chăm lo cho các em học
sinh. Giảng dạy rất tốt, hai năm liền là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và
ngành, nhiều năm liền được Trung ương Đoàn tặng bằng khen, là Đảng viên
trẻ của chi bộ trường.
Trả lời câu hỏi của Bí thư Đoàn
trường Nguyễn Huệ, thầy giáo Cải cho biết nỗi trăn trở của mình
trước tình trạng các bạn học sinh không tha thiết với hoạt động
Đoàn. Thầy chân thành cho biết mình đã được tiếp sức rất nhiều và
trưởng thành nhờ có các hoạt động Đoàn
Nói về người học trò xưa, nay đã là
đồng nghiệp, thầy hiệu trưởng đã không giấu được niềm tự hào của mình:
“Sinh hoạt trường, chúng tôi thường lấy tấm gương của thầy Cải để các
em học sinh noi theo. Đây là tấm gương mà theo tôi là hiếm thấy và cần
nhân rộng. Vì nếu có nhiều em học sinh nghèo khó như Cải mà biết vươn
lên trong học tập, cố gắng vươn lên là điều quý cho xã hội, cho đất
nước”.
Thầy giáo Nguyễn Văn Cải được bình chọn là Gương Công dân
trẻ thành phố 300 năm; Thanh niên tiên tiến thành phố Hồ Chí Minh ba
năm liền; Học trò giỏi hiếu thảo miền Đông Nam bộ; Báo cáo điển hình
Người tốt việc tốt cấp thành phố năm 1998; Một trong 50 Gương Sao tháng
Giêng toàn quốc đầu tiên do Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tuyên
dương năm 2000; Một trong “50 Gương hiếu thời nay” – chân dung học trò
giỏi hiếu thảo của báo Tuổi Trẻ.
Sau những năm tháng bền chí
vượt qua mọi gian khó, Cải đã tìm thấy hạnh phúc, niềm vui cho mình.
Bên Cải ngày nay có người vợ hiền phụ anh chăm sóc mẹ, cùng anh vượt
qua những khó khăn trong cuộc sống và hai đứa con ngoan. Cải tuy buồn
về người chị bị bệnh ung thư vừa qua đời gần giáp năm nhưng bù đắp lại
cho anh là niềm vui vì sức khỏe của mẹ anh đã hồi phục được 90%, tinh
thần minh mẫn, Cải đang chăm sóc mẹ để mẹ được sống yên vui trọn những
tháng ngày còn lại. Và Cải vẫn còn rất nhiều tâm nguyện, nhiều kế hoạch
để thực hiện với mong muốn mang lại càng nhiều càng tốt những cơ hội
học tập cho các em học sinh nghèo hiếu học.
Cuộc đời của anh
ngày xưa là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần vượt khó, việc làm của
anh ngày nay là tấm gương cho cái tâm sống vì mọi người. Chúng tôi tin
rằng anh sẽ thành công và hạnh phúc trên con đường mà anh đã chọn.
Chia
tay thầy giáo Nguyễn Văn Cải trong khi trời vẫn còn mưa bay bay. Chúng
tôi càng khâm phục hơn một người con chí hiếu, một trò giỏi vượt khó,
một thầy giáo gương mẫu… và chợt nghĩ, đất nước ta còn nghèo tuy đã gia
nhập với thế giới nhưng “để sánh vai với các cường quốc năm châu” như
lời Bác Hồ mong muốn, thế hệ trẻ cần trang bị kiến thức và tinh thần
vượt khó để vươn lên. Tấm gương của thầy giáo Nguyễn Văn Cải tuy nghèo
nhưng hiếu học thi đỗ vào ba trường đại học và những tấm gương vượt khó
khác đã dệt nên những câu chuyện cổ tích thời hiện đại sẽ là những câu
chuyện được kể mãi cho những thế hệ học sinh tiếp nối sau.
Viết xong nhân ngày khai giảng năm học mới 2007 - 2008.