Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Cô giáo duy nhất ở Trường Sa




Quyết định liều lĩnh
Cô giáo Bùi Thị Nhung (28 tuổi) vốn dạy ở Trường tiểu học Suối Cát, xã Suốt Cát, còn chồng cô là anh Đặng Thanh Chương, công nhân Xí nghiệp cát trắng Cam Ranh, Khánh Hòa. Hai vợ chồng có một đứa con gái xinh xắn là cháu Đặng Bùi Phương An cùng một mái nhà nhỏ yên bình. Cuộc sống sẽ cứ thế trôi đi, nếu không có một ngày tình cờ cô giáo Nhung nghe chuyện đảo Trường Sa đang có nhiều cháu nhỏ thất học.
“Hồi đó mình trăn trở lắm, mình cũng là mẹ, lại là cô giáo. Biết các cháu nhỏ theo bố mẹ sinh sống ở đảo mà thất học thì tội lắm. Đảo Trường Sa lại thuộc Khánh Hòa nên mình muốn có cái gì đó đóng góp cho quê hương nên mới xin ra đây dạy học”, cô giáo Nhung kể với chúng tôi.
Nhưng chuyện xin ra đảo dạy học, ban đầu cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt của gia đình. “Mình là người có gia đình, ra đảo thì chồng con một nơi, mình một nơi cũng khó. Mà mang theo cả chồng, biết làm gì, con cái liệu có sống nổi với khí hậu khắc nghiệt ở Trường Sa không, mình day dứt lắm”, cô Nhung tâm sự.
Trăn trở, day dứt của cô giáo Nhung thật may lại được sự đồng cảm, chia sẻ từ phía chồng. “Nghe vợ bảo đi ra đảo, ban đầu mình cứ tưởng là đùa. Nhưng khi nghe ý định nghiêm túc của vợ, mình cũng suy nghĩ và ủng hộ vì mình hiểu cô ấy hơn ai hết. Lúc đó mình chỉ nói một câu, ở trong đất liền thì lương anh đủ để nuôi em và con, còn ra đó thì em nuôi anh nhé”, anh Chương nửa đùa nửa thật khi nhớ lại ngày xin ra đảo dạy học. Bố mẹ của hai gia đình khi hiểu hết tấm lòng của hai vợ chồng trẻ cũng không ngăn cản nữa, chỉ dặn mỗi câu: “Đã đi thì phải sống hết mình nơi quê hương mới”.



Mỗi ngày 4 “sô”, 5 lớp
Từ ngày ra đảo dạy học, một mình cô Nhung phụ trách 12 cháu nhỏ đủ các lứa tuổi, từ mầm non cho đến lớp 4. Một ngày cô dạy 4 “sô”, cả sáng lẫn chiều. Lúc thì dạy tập đọc, tập viết cho học sinh mẫu giáo, lúc dạy văn, dạy toán cho các em lớp 2, lớp 3, lớp 4. “Mình soạn giáo án đủ 9 môn cho học sinh lớp 2, lớp 3 và 11 môn cho học sinh lớp 4. Ở đây chỉ còn môn thể dục là mình không dạy thôi vì khí hậu khắc nghiệt ở Trường Sa tự thân cũng đã là một môn học quá nặng cho các em rồi”, cô Nhung cho hay.
Dạy học, soạn giáo án cho đến làm đề thi, kiểm tra học kỳ và cho các cháu lên lớp, cô Nhung phụ trách tất. Nhiều đêm cô Nhung phải thức đến tận 2, 3 giờ sáng để soạn giáo án cho các lớp, mà mệt nhất là giáo án về môn văn. Không như trong đất liền, những hình ảnh minh họa luôn phong phú, thậm chí các em có thể đi thực tế để hiểu, nắm bắt vấn đề rõ hơn.
“Học ở đảo nên các cháu không có điều kiện tiếp xúc thực tế nhiều. Các cháu không được đi chơi công viên, sở thú, đi xem phim, tham quan thắng cảnh. Bài tập làm văn các cháu làm luôn phải là một sự tưởng tượng của riêng mình”, cô Nhung kể. Những cánh đồng lúa chín, cây đa, đình làng, con trâu, cái cò… vốn dĩ thân quen, gần gũi với bọn trẻ trong đất liền thì với bọn trẻ ở đảo chúng chỉ biết qua sách vở.
Cũng may gần đây Trường Sa đã có thể xem được tivi, nên bọn trẻ có thể nhận thức được những gì cô giáo Nhung muốn truyền đạt. Nói là vậy, đời sống tâm hồn của bọn trẻ ở đảo theo quan sát của chúng tôi còn rất thiếu thốn. Mùa hè, chúng thường lấy trò chơi lượm ốc, san hô về rải quanh nhà làm trò chơi bán hàng, nhưng mùa đông thì chỉ quanh quẩn trong nhà vì thời tiết ngoài đảo rất khắc nghiệt.



Mỗi "lớp" của cô Nhung chia thành một cụm, quay lưng vào nhau
 

                                       Ghế đu là trò chơi duy nhất của các cháu nhỏ trên đảo

Cô Nhung cho biết, lũ trẻ ở Trường Sa được cái rất ham học. Ở đảo, không có nhiều thứ để chơi nên hầu hết đứa nào cũng thích đi học, vì mỗi giờ học chúng tìm thấy niềm vui. Để chương trình học của các cháu không bị lạc hậu, cô Nhung thường phải liên lạc về đất liền xin đồng nghiệp giáo án, sách vở và cả đồ chơi.
Tất cả 12 học trò của cô giáo Nhung, đứa nào cũng học khá, thậm chí cháu Nguyễn Thanh An, học sinh lớp 4 - cũng là cậu học trò lớn tuổi nhất trong bọn trẻ - thì 4 năm liền đều đạt loại giỏi. “An nó siêng học lắm, nhưng điều kiện học ở đảo không tốt bằng đất liền nên bố mẹ cháu dự định tốt nghiệp lớp 5 sẽ cho cháu vào đất liền. Ở đây cũng có hai, ba cháu học khá bố mẹ đều đã cho vào đất liền học tiếp rồi”, cô Nhung cho biết.
Vất vả, khó khăn nhưng cô Nhung chưa bao giờ thấy lựa chọn của mình là sai lầm, bởi ở đảo cô có một mái ấm yên bình, có người chồng thương yêu vợ hết mực cùng đứa con gái xinh xắn. “Ở đây bọn em cũng rất được các anh chiến sĩ cũng như lãnh đạo ở thị trấn Trường Sa quan tâm. Cả đảo như một mái nhà chung cho mọi người, lại thường xuyên nhận được hỏi han, động viên từ trong đất liền”, cô Nhung nói tiếp.
Mong ước duy nhất của cô Nhung hiện giờ là có một chiếc máy vi tính cùng máy in, để việc soạn giáo án, ra đề thi đỡ mệt hơn, thay vì cứ mỗi lần kiểm tra học kỳ cô lại ra ủy ban thị trấn đánh nhờ đề thi. Thế nhưng, mong ước vậy nhưng cô vẫn bảo với chúng tôi đừng xem đó là yêu sách, đòi hỏi, vì cô vẫn luôn khẳng định mình chưa đóng góp được gì nhiều cho vùng biển đảo thiêng liêng của tổ quốc.




                                                                       TRẦN KHÁNH VINH (GV Văn THCS Tân Thới Hoà)


Tài sản của một người thầy


Ai đó đã nói: “Chỗ đứng của người thầy là trong lòng học sinh”. Và với niềm yêu họ dành cho ông bằng cả ngàn lá thư ông cất giữ cẩn thận trong ngôi nhà yên tĩnh với vài đóa phù dung, đôi chút quỳnh hương, dạ lan, ông thật sự giàu có. Ông, thầy Trương Tham. Có thể nói vậy về nhà giáo ưu tú Trương Tham (nguyên giáo viên dạy văn Trường THPT Trưng Vương, TP Quy Nhơn, Bình Định). Với hơn 40 năm đứng lớp, nhiều học trò của ông giờ là giáo sư, tiến sĩ, cán bộ đầu ngành, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà giáo… Nhưng ngay cả những học trò thành danh, những học trò là công nhân, cày ruộng hoặc cầm súng đánh giặc rồi mãi mãi không về…, ít ai biết thầy đến với nghề dạy học không hề là tự nguyện lựa chọn nghề “trồng người” cao quý.
Nghề chọn người: Mơ mái trường tổng hợp lại phải đi sư phạm, học giỏi toán lại phải học văn, tất cả đều từ quyết định của người cha, một tú tài Pháp tham gia cách mạng, tập kết rồi trở về Nam chiến đấu, hi sinh. Trước ngày về Nam, hai cha con đi dạo trên đường Hà Nội, ông nghe cha đọc những bài thơ tiếng Pháp rồi dịch cho nghe. Người cha bảo rằng mai này đất nước thống nhất, các môn xã hội, nhất là môn văn, cần những người như con đứng lớp! Vậy nên cha ông đã chọn cho ông học Sư phạm Vinh, ngành văn. Chọn Vinh vì lúc này tập trung nhiều thầy giỏi, còn văn là môn học cần cho tương lai: người cha chu đáo của ông đã gửi lại con kỳ vọng và cũng là số phận. Và ông đã đi trọn con đường…
Chuyện nghề: Cha như đã kể, mẹ cũng con nhà đỗ đạt, cậu học sinh của tổng Kim Sơn, Hoài Ân, Bình Định tập kết ra học Trường học sinh miền Nam ở Hải Phòng rồi Hà Đông không mấy hứng thú học hành. Điểm học cứ làng nhàng 3, khá lắm cũng chỉ được 4 (thời này theo thang điểm 5). Cho tới khi lớp được học thầy Tô Thế Huyên, người Nghệ An, dạy toán. Buổi đầu thầy không dạy mà dành trọn cho việc thầy trò hiểu nhau. Thầy, sau khi tự giới thiệu mình, đã gọi tên từng học sinh đứng lên để làm quen. Thật lạ lùng, mấy chục học sinh, người tỉnh thành nào ở miền Nam, khi xưng danh và địa chỉ, thầy cũng nói vanh vách vùng miền ấy những đặc điểm riêng về địa danh, sản vật hay văn hóa lịch sử. Nỗi nhớ quê và niềm kính phục thầy Huyên đã làm cả lớp lập tức có một không khí học hành khác hẳn trước đó. Ông, từ một cậu học trò làng nhàng lơ đễnh chuyện học đã thật sự chuyên tâm và vượt lên thành giỏi nhất môn toán. Cách dạy của thầy Huyên ngoài cung cấp kiến thức căn bản còn gợi những suy tư, những kỹ năng tổng hợp. Tất nhiên sau này ở Đại học Sư phạm Vinh ông còn được học những thầy giỏi như Phùng Văn Tửu, Nguyễn Đăng Mạnh… Nhưng có lẽ người thầy để lại dấu ấn sâu đậm nhất vẫn là thầy Huyên của ngôi trường lợp lá gồi ở Hà Đông, bên ngoài là những hàng bông giấy rực lên trong nắng mơ màng.Năm 1975, ông về lại quê hương Bình Định, hành lý mang theo là cả chục cuốn sổ ghi chép cẩn thận những kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp giỏi sau mười năm dạy các trường ở Nam Định, “đất học” của miền Bắc bấy giờ.
Thầy giáo và nghệ sĩ: Với học trò, ngoài việc truyền đạt những kiến thức và kỹ năng tốt nhất, ông còn rất quan tâm kích thích niềm đam mê, sự hưng phấn học văn. Với học sinh đến với giờ văn thầy Tham luôn tìm thấy những hứng thú. Nhiều học trò nhận xét ông là thầy giáo - nghệ sĩ. Không hẳn vì ngoài việc dạy học ông còn làm thơ, viết báo, viết sách về cảm luận văn chương mà bởi chính cách dạy, cách truyền cảm hứng cho học trò rất riêng của ông. Ông bắt đầu bài giảng có khi bằng cách nêu một công thức hóa học và khẳng định: “Các em học thuộc thì chỉ nhớ đây là một công thức, nhưng có những vần thơ sẽ làm các em xúc động, chẳng hạn như…”. Những vần thơ này không phải là bài học hôm đó, ông chỉ gợi sự chú ý. Có lúc ông bắt đầu bằng việc kể lại ấn tượng lần đầu ăn cơm hến rất cay và ngon của Huế rồi bài học đến một cách tự nhiên cuốn hút… Truyền cảm hứng cho học trò là một phần sự thành công của tiết học, có khi mang ý nghĩa quyết định. Bài học từ người thầy dạy toán năm xưa đã được ông vận dụng rất giỏi suốt mấy chục năm đi dạy của mình.“Thầy không chỉ dạy mà còn học từ học trò. Không kể những học sinh giỏi, ngay cả một bài làm của học sinh trung bình, đôi khi các em cũng có những phát hiện bất ngờ” - ông quan niệm. Có thể điều này nhiều thầy giáo cũng nghĩ như ông nhưng nói ra thành lời một cách chân thành như thế hẳn không mấy người. Với ông, học, dù học thầy, đồng nghiệp, sách vở, cuộc sống hay từ học trò, cuối cùng cũng để cho việc làm thầy tốt hơn. Suốt cuộc đời dạy học, ông luôn kiên trì tìm trong những bài kiểm tra chất lượng đầu năm những dấu hiệu năng khiếu để chuyên tâm bồi dưỡng. Đến năm về hưu, 2003, ông còn kịp góp cho tỉnh gần chục danh hiệu học sinh giỏi văn.
Hai lần (năm 1978 và 1983) đoạt giải nhất cuộc thi “Đồ dùng dạy học” quốc gia, cùng thành tích từ giảng dạy, năm 1990 thầy Trương Tham được Nhà nước phong danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Dù đã nghỉ hưu, năm năm qua ngày ngày ông vẫn đạp xe đến các trung tâm dạy luyện thi và tham gia các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi của tỉnh. Ông luôn được mời vì năng lực, kinh nghiệm. Và ông cũng cần đi dạy vì nhớ không khí trường lớp, học trò. Hàng ngàn học trò của mình ai ông cũng yêu thương, nhưng ông dành tình cảm đặc biệt cho những học sinh hư hỏng biết nghe lời, học sinh giỏi và những người đi đánh giặc đã ngã xuống. Hằng tuần, thư từ, điện thoại khắp nơi trong nước, ngoài nước của những học trò thành đạt và không thành đạt thường xuyên đến với ông. Ông nói mình chỉ biết dạy học, còn nhiều lĩnh vực không thể tới được: nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn, công nhân các ngành nghề, sĩ quan quân đội… đã có học trò góp sức.

Nhân dân đảo Ngọc với Bác Hồ


I/Đặt vấn đề

          Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh  luôn quan tâm đến giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh. Miền bắc được giải phóng, tỉnh Quảng Ninh là một trong những nơi được Bác về thăm nhiều nhất. Những lời dạy bảo của Bác là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cổ vũ động viên Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh giành thắng lợi không chỉ trong những chặng đường đã qua mà cho cả các giai đoạn hiện nay và mai sau. Vào ngày 12 tháng 11 năm 1962 trong một chuyến về thăm Qủang Ninh Bác đã ra thăm và động viên nhân dân đảo Ngọc(xã Ngọc Vừng-huyện Vân Đồn-Quảng Ninh).
         
 II/ Nội dung câu chuyện:
                    Nhân dân đảo ngọc với bác hồ
Sẽ mãi mãi Đảo Ngọc không thể nào quên  một ngày tháng 11 năm 1962,  khi chiếc máy bay lên thẳng lượn trên bầu trời đảo - người dân đảo nghĩ ngay tới việc được đón Bác Hồ về thăm. Từ  của máy bay bước ra, Bác tươi cười giơ tay vẫy chào quân dân trên đảo.Các cụ già, các em thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ,  bộ đội vây quanh bác với một niềm sung sướng dạt dào, âm vang tiếng vỗ tay và ngời sáng những cặp môi cười.
          Bác đã hỏi chuyện cụ Biên - người cao tuổi nhất đảo Ngọc:
-         Cụ khoẻ luôn không?
-         Thưa cụ Hồ khoẻ lắm!
-         Cụ thấy bây giờ khác khi giặc tạm chiếm ở chỗ nào?
-         Thưa cụ,khác ở chỗ không còn cảnh người bóc lột người.
Bác cười rất vui, xiết chặt cụ biên: - Cụ nói đúng lắm! rồi quay sang chị phụ trách phụ nữ xã, bác hỏi:
-         Thế phụ nữ  ở đảo có còn cãi nhau không?
-         Thưa Bác còn ít thôi ạ!
-          Thế thì phải dần dần đừng cái nhau nữa, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ.
Rồi bác hỏi đồng chí bí thư chi bộ xã: Trên đảo này có bao nhiêu đảng viên... Bác bảo như vậy là ít. Cần tuyên truyền, giáo dục và phát triển Đảng nhiều hơn trong thanh niên, phụ nữ. Bác lấy kẹo chia cho các cháu thiếu nhi. Âu yếm ôm hôn từng cháu và hỏi han ân cần. Bác hỏi thăm nam nữ thanh niên và bộ đội.... Bác căn dặn về sự cần thiết phải làm giàu kinh tế trên đảo như cấy lúa, trồng khoai, trồng cây, đánh cá...;chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho nhân dân, dạy học cho các cháu nâng cao đời sống người dân trên đảo.
Bác đặc biệt căn dặn: Bộ đội và nhân dân phải đoàn kết, bộ đội phải giúp dân xây dựng hợp tác xã. Nhân dân phải giúp bộ đội chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bác đã về thủ đô, nhưng tình bác còn đượm trong lòng, lời bác còn âm vang mãi. Nơi Bác đứng có một cây đa xum xuê cành lá như chiếc lọng lớn, toả bóng xuống bãi cát trắng mịn màng. Người dân Đảo xây một tấm bia to bằng xi măng vững chãi, vẽ hoa văn xung quang và khắc hình cánh chim ở giữa lời bác dặn.
Đúng ngày sinh nhật 44 năm của Đảng năm 1974- Đảo Ngọc vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do nhà nước phong tặng.
Đảo Ngọc, cửa ngõ đất liền, gai găm  mắt giặc, mặc dầu đã một năm hoà bình mà cây trên đảo vẫn chưa nhuộm xanh lại hết những mảnh đất bị cháy xém bởi đạn bom của giặc Mỹ. Gần 200 trận, hơn nghìn rưỡi bom, cùng với non vạn bom bi, rốc- két quân giặc dội xuống một hòn đảo vỏn vẹn 600 dân - những mong giết chết mọi sự sống trên đảo. Nhưng bọn trùm sỏ đế quốc Mỹ làm sao hiểu nổi người dân đảo Ngọc nói riêng và người dân Việt Nam nói chung-thật lạ kỳ thay những con người kiên cường bất khuất. Mỗi lần máy bay giặc bay qua đảo Ngọc-đều bị lưới lửa phòng không ngang trời vây ráp.
Cách ngày này hơn 30 năm về trước, những phát đạn căng vút lên từ khẩu súng đặt trên đất đảo anh hùng, đã bắn tan xác chiếc may bay giặc Mỹ thứ 200 ở tỉnh ta và là chiếc máy bay thứ  23 của đảo Ngọc, đã gắn thêm vào lá cờ truyền thống của Đảo Ngọc anh hùng.
Hà Nội 12 ngày đêm cuôí tháng chạp năm 1972 đã đi vào lịch sử  cả nước như một cái mốc, một “Điện Biên Phủ trên không”, quyết định vận mệnh, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, quyết định vận mệnh của đế quốc Mỹ tại cuộc chiến tranh ở Việt nam. Thì ở Quảng Ninh-chiếc máy bay giặc Mỹ thứ 200 tròn mà quân và dân đảo Ngọc đã bắn tan xác trên bầu trời tỉnh Quảng Ninh cũng trở thành con số lịch sử.
Lễ đài mang hình Bác Hồ rất lớn ở chính giữa. Từ đó, Bác tươi cười nhìn mãi ra bãi cát mà năm 1962 chính Người đã đứng. Quân và dân Đảo Ngọc quần tụ dưới trời mưa xuân, nghe đọc lệnh của Chủ tịch nước và quyết định của Quốc hội phong tặng danh hiệu Anh hùng cho đảo Ngọc. Bí thư xã Đảo tay nâng tấm bằng khen lồng trong khung kính, cùng với chính trị viên tiểu đoàn bộ đội đóng trên đảo dâng cao lá cờ thưởng danh hiệu anh hùng, là một hình ảnh minh hoạ tuyệt vời cho tình quân dân ở đảo Ngọc như lời Bác dặn năm nào: ở trên đảo này, bộ đội và nhân dân phải đoàn kết.
Thật vậy, lời dạy của bác Hồ thấm nhuần trong việc làm hôm nay của quân và dân trên đảo Ngọc anh hùng. Bác đã đi xa gần 40 năm , song những lời dặn dò, chỉ bảo ân cần của bác đối với nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh vẫn còn in đậm mãi.
   III/ Ý nghĩa, bài học.
 “ ôi lòng bác vậy cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa.
Chỉ biết quên  mình cho hết thảy
Như dòng sông đỏ nặng phù sa.”

          Lời thơ ấy cứ ngân vang trong tôi khi đọc xong câu chuyện về Bác. Một vị chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc mà vẫn luôn dành thời gian quan tâm đến nhân dân vùng biển đảo xa xôi. Bác đã dành sự quan tâm, thăm hỏi ân cần tới tất cả các tầng lớp, các lứa tuổi từ già đến trẻ, từ phụ  nữ tới bộ đội, cán bộ trên đảo Ngọc. Bác thương lám những người dân lam lũ nơi đây trở thành mục tiêu trọng điểm trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ. Một lời hỏi thăm, một lời động viên ân cần cũng chính là những suy tư, trăn trở của bác dành cho những người dân nơi đây. Lời căn dặn về tình đoàn kết quân dân trên đảo Ngọc của Bác đã trở thành sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn, một động lực mạnh mẽ thôi thúc toàn quân và dân trên đảo Ngọc chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

   IV/ Liên hệ bản thân, đơn vị

          Từ con người vốn rất đẹp trong đời thường, Bác đã đi vào thơ, ca, nhạc hoạ, đi vào lòng người dân Việt Nam bởi chính tấm lòng nhân ái bao la ấy!
          Nhìn vào tấm gương  sáng chói của Bác tôi ý thức hơn hết vai trò và trách nhiệm của mình. Một  người giáo viên nội trú-cần lắm những tấm lòng yêu thương học sinh. Khi giảng dạy  tôi luôn chú ý làm sao giảng dễ hiểu, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất và luôn rèn tác phong gương mẫu của một người giáo viên. Khi các em học sinh ốm, đau thì chúng tôi là những người cha, người mẹ thứ 2 có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc các em khi bố mẹ các em ở xa, chưa kịp xuống. Khi các em học sinh có những tâm sự, những vấn đề khúc mắc thì  chúng tôi lại như một người bạn, người chị cùng chia sẻ, động viên, góp ý cho các em những hướng giải quyết tích cực nhất. Tôi luôn chú trọng việc rèn luyện đạo đức, tác phong cho chính mình và cho các em học sinh, giáo dục các em tinh thần đoàn kết các dân tộc, tương thân tương ái trong học tập và sinh hoạt nội trú. Học tấm gương của Bác trước hết tôi học ở Bác một tấm lòng-những lời dạy của Bác sẽ là hành trang cho tôi và cho mỗi chúng ta phải học tập, rèn luyện và hoàn thiện mình trong suốt cuộc đời.
 
V/ Kết luận
         
          Qua đợt Trung ương Đảng phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì một lần nữa hình ảnh của Bác được gợi  nhớ, in sâu vào mỗi cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trên cả nước.
                                                            
                                                                      TRẦN KHÁNH VINH

                        

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Trong xã hội ngày hôm nay, cùng nền kinh tế thị trường, nhiều người có lối sống không lành mạnh. Không ít người chỉ biết chăm lo cho lợi ích cá nhân của mình… Đó chính là biểu hiện của lối sống vô trách nhiệm, ích kỉ… Vậy làm cách nào để khắc phục tình trạng đó? Đó có thể là một vấn đề nan giải. Chính vì vậy, việc hưởng và làm theo cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh” là rất quan trọng. Nó giúp mọi  người có những “bước đi” đúng đắn, và giúp cho chúng ta có thể tự trau dồi, tự rèn luyên bản thân mình ngày càng tốt hơn.
Trong đó việc “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng phục sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân" là rất quan trọng. Đây là cuộc vận động có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, sâu sắc và thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong hai năm qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng, đặc biệt trong các trường học, việc học tập và làn theo tấm gương đạo đức là một trong những việc rất quan trong để người giáo viên tự hoàn thiện bản thân mình. Nó đã trở thành thước đo để đánh giá quá trình trưởng thành và phát triển của một giáo viên.
Để tiếp tục đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu cần phát huy vai trò và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong học tập và làm theo tấm gương của Bác.Trong năm 2009 này với chủ đề “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân” gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc của Bác,đòi hỏi mỗi tổ chức, cá nhân… xây dựng kế hoạch học tập làm theo tấm gương đạo đức của Bác với nội dung cụ thể và thiết thực.
Theo tôi, đây là cuộc vận động có ý nghĩa rất thiết thực đối với Đảng và nhân dân nói chung và đối với cán bộ viên chức của trường THCS Lê Lai nói riêng. Cuộc vận động không chỉ mục đích nhằm ca ngợi, làm nổi bật tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ chí Minh; mà còn làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thấm nhuần nội dung và nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, giá trị to lớn của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần trong xã hội. Qua đó phát hiện, nêu gương những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Đồng thời là dịp để toàn thể giáo viên trường THCS Lê Lai nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình với xã hội, thể hiện tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc với Bác Hồ, vị cha già kính yêu của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta , người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người là tấm gường sáng ngời về đạo đức và lối sống. Đó là tấm gương về sự hy sinh cao cả, cả cuộc đời vì nước vì dân; là tấm gương về lối sống thanh tao, giản dị, trong sáng, gần gủi, gắn bó với nhân dân, tấm gương về tinh thần quốc tế cao cả. Đó là tinh thần làm việc tận tuỵ, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng, vì nhân dân, là sự mẫu mực về đức tính “cần , kiểm, liêm, chính, chí công, vô tư”.
Vì vậy cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là dịp để cho người giáo viên như tôi thấm nhuần hơn nữa những giá trị đạo đức trong sáng của Người, phấn đấu học tập và làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Người. Để thực hiện có hiệu quả cuộc vận động trên, là một cán bộ viện chức cần phải thực hiện một số nội dung sau:
+ Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền , giáo dục về mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động, để cuộc vận động có sức lan toả cả bề rộng lẫn bề sâu trong toàn Đảng, toàn dân, trong đội ngũ cán bộ viên chức và trong toàn xã hội… Để là được điều này, người giáo viên cần phải tự rèn luyện bản thân mình và giúp học sinh cùng học tập đạo đức tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thiết thực. Trong quá trình thực hiện, người giáo viên cần phải thường xuyên nhìn lại bản thân mình, phải biết tự đánh giá và sửa chửa kịp thời những  sai sót của bản thân mình… Đó cũng là con đường ngắn nhất để giáo viên tự hoàn thiện mình và trở thành tấm gương sáng cho học sinh.
+ Cần phải có những việc làm thiết thực hơn trong việc hưởng ứng cuộc vận động này:
Về việc nâng cao ý thức trách nhiệm. Người giáo viên cần phải có trách nhiệm với công việc. Chúng ta cần tìm nhiều biện pháp để giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học. Để nâng cao thành tích của nhà trường.
Về việc phụng sự tổ, phục vụ nhân dân, người giáo viên cần có thái độ đúng mực khi giao tiếp với phụ huynh. Riêng với học sinh, chúng ta cần phải lấy sự công tâm để dạy dỗ học sinh… Từ đó hướng các em vào tình yêu quê hương, tình yêu tổ quốc.
+ Cần phải có những kế hoạch cụ thể để tự rèn luyện mình: rèn luyện về tính giản dị, tiết kiệm, trung thực…
Với nội dung của cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là “ Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng phục sự Tổ Quốc, phục vụ nhân dân” hết sức rộng lớn và sâu sắc. Bản thân cần phải gương mẫu thực hiện, nêu gương tốt về phẩm chất, đạo đức lối sống, “nói đi đôi với việc làm” theo phương châm “trên trước, dưới sau, trong trước ngoài sao”, học và học mãi nhận thức được về vị trí, vai trò của cán bộ, viên chức. Đó cũng là những vấn đề cốt lõi của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.
                                                                                                                                                     TRẦN KHÁNH VINH
                           (Giáo viên Văn Trường THCS Tân Thới Hòa)

VÒNG TAY ẤM ÁP ĐÓN NGƯỜI QUAY LẠI


Thấy những người 1 thời lầm lỗi sau thời gian hồi gia vẫn tỏ ra rụt rè, không dám tiếp xúc với láng giềng xung quanh, Chung chợt nghĩ :”Trên địa bàn có tới 16 người tái hòa nhập cộng đồng, nếu cứ đế các anh chị ấy sống tách biệt, tự cô lập như thế, e có lúc họ sẽ quay về đường cũ”. Mang nỗi lo của mình trình bày với các cô chú cán bộ phường, đồng thời đề xuất ý tưởng thành lập CLB Những người bạn, Chung mừng hết lớn khi được mọi người ủng hộ nhiệt tình. Ngày ra mắt CLB cũng là lúc chủ nhiệm Chung toát mồ hôi với công việc “khó nuốt” : vận động người hồi gia đến với CLB.
Cứ đều đặn mỗi ngày, Chung tranh thủ thời gian “tấp” vào từng nhà, trước hết là tiếp xúc với gia đình để nắm được tình hình và gây cảm tình, sau mới lân la làm quen với đối tượng. Thấy “cậu này lễ phép và dễ mến quá!”, những “người lạ” không còn cảm giác bị cộng đồng xa lánh nữa, sẵn sàng trải lòng tâm sự thật tình. Gặp anh T rỗi rảnh hay đi loanh quanh trong xóm, Chung chủ động “tấn công” liền :”Tiệm báo ở đầu ngõ đang cần người giao báo. Em đã xí chỗ cho anh rồi. Sáng mai, em giới thiệu anh với chủ tiệm bắt đầu làm luôn nha!”. Đang thất nghiệp bỗng có việc làm đàng hoàng để kiếm thu nhập phụ giúp gia đình, anh T xúc động đến nghẹn lời.
Ngoài liên hệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh ở đại bàn. Chung còn chịu khó lên mạng tìm kiếm thông tin tuyển dụng để “săn” các công việc như : giao hàng, sửa xe, chăm lo hàng quán… nhằm giới thiệu cho những người đang mong làm lại cuộc đời. Chung tâm sự :”Mình tin nếu có nghề nghiệp ổn định, các anh chị ấy sẽ tự tin hơn khi hòa nhập cộng đồng, không còn thời gian nghĩ ngợi lung tung nữa”. Sau bao ngày lăng xăng, cuối cùng nỗ lực vì mọi người của Chung đã được đền đáp khi từng thành viên của  CLB Những người bạn đã tìm được công việc thích hợp. Còn nhớ, ngày anh D được nhận vào làm ở 1 công ty nước ngoài, không chỉ Chung mà cả CLB Những người bạn đều “hết hồn”, không giấu được niềm vui sướng. Lời chúc mừng khắp nơi bay về, nhưng Chung lại “bào chữa” :”Mình chỉ là người giới thiệu, còn được tuyển vào làm là do nỗ lực của anh D đó chứ?”. Chung là thế đó, lúc nào cũng tìm cách “né” những lời khen tặng, dù bạn xứng đáng được như thế!


                                                                  Nguyễn Thị Thư  ST
                                                                     (Nguồn Mực tím)


BÀI HỌC TỪ NHÀ SÀN


Sinh ra và lớn lên ở miền Bắc nên Đào Minh Hải (sinh viên ĐHSG) có nhiều dịp viếng thăm các khu tích về Bác. Qua  những chuyến tham quan ấy, “Nhà sàn Bác Hồ” là nơi đọng lại trong Hải nhiều ấn tượng sâu sắc nhất. Bạn kể, ngôi nhà của Bác chủ yếu làm từ tre với vài căn phòng nhỏ đơn sơ. Để tiết kiệm diện tích, Bác tận dụng vách ngăn giữa hai phòng thiết kế giá sách, lót ván lên các bậc thang để làm băng ghế ngồi… Tất cả những hình ảnh ấy gợi cho Hải suy nghĩ về lối sống bình dị, tinh thần tiết kiệm mà trước đây bạn  ít khi nghĩ đến.
Nếp sinh hoạt của Hải dần thay đổi, bắt đầu từ những việc làm thường ngày. Bộ quần áo đi học thay vì sử dụng 1 lần thì nay bạn cố giữ sạch để có thể mặc 2 lần nhằm tiết kiệm thời gian giặt giũ. Trong học tập, Hải chỉ mua những quyển sách hay tài liệu thật sự cần thiết, còn lại thì mượn thư viện, bạn bè để photo hoặc chịu khó ghi chép lại…. Nhiều người thắc mắc gia đình Hải đâu có khó khăn, sao phải cân nhắc kĩ lưỡng khi chi tiêu cho khổ thân. Hải cười hiền bảo : “Sống giản dị để có thể chia sẻ với nhiều người khác”.
Không chỉ thay đổi bản thân, Hải còn kêu gọi bạn bè cùng tiết kiệm. Chẳng hạn, trước kia nhóm của Hải thường có thói quen đi du lịch, cắm trại vào dịp lễ nên mọi chi phí đều cao, lại mất thời gian di chuyển do kẹt xe. Gần đây, Hải cùng mọi người nhất trí sắp xếp thời gian đi khám phá, thư giãn vào ngày thường sao cho không ảnh hưởng đến lịch học; điểm đến tuy gần hơn nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc chơi. Đặc biệt, để kết hợp giữa chơi và học, Hải tìm cách lồng vào chương trình những tiết mục thi thố hay đố vui có thưởng. Ngoài ra, những lần đi xem văn nghệ ở trường, thấy trong cánh gà thường có nhiều bó hoa bị vứt khắp nơi thật lãng phí, Hải quyết định viết thư ngỏ gửi tới từng lớp để nhắn nhủ :”Hoa đẹp nhưng rồi sẽ tàn và cũng phải bỏ đi. Thay vì mua hoa, các bạn nên dùng số tiền ấy hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn”. Và thế là phong trào “biến hoa thành quỹ” nhanh chóng lan rộng, tạo điều kiện cho Hải cùng nhóm bạn có cùng tâm huyết thực hiện những chuyến viếng thăm, tặng quà cho trẻ em nghèo ở mái ấm Q.8, Trung tâm Bảo trợ Nuôi dưỡng Trẻ em Q.Gò Vấp…
Để thể hiện lòng tôn kính với Bác Hồ, suôt thời gian dài, Hải đã cất công sưu tầm về Bác hệ thống “tài sản” của mình thành chuỗi sự kiện gắn với cuộc đời – sự nghiệp của Bác. Cách sưu tầm của hải là góp nhặt những con tem có hình Bác từ các bức thư mà gia đình, người thân gửi từ Bắc vào, đến tiệm sách cũ tìm mua các quyển tạp chí chuyên về tem rồi cắt tem có hình Bác,… Sau đó, Hải thực hiện việc cắt dán, trang trí để cho ra đời album tem đặc biệt.
Chưa dừng lại ở đó, Hải còn cất công đi đến các tiệm mộc gỗ xin gỗ vụn về đục đẽo làm mô hình “Nhà sàn Bác Hồ” với thông điệp gửi đến mọi người :”Tiết kiệm không phải là biểu hiện của lối sống khắc khổ mà để hoàn thiện nhân cách, là tiêu chí đánh giá 1 dân tộc văn minh, cao thượng”…

                                                                          Thúy Loan ST
                                                                          (Nguồn Mực tím)



Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền...

Thầy giáo NGUYỄN VĂN CẢI
Giáo viên trường THPT Quang Trung, huyện Củ Chi, TPHCM
Anh Nguyễn Văn Cải

LỚN LÊN TỪ RAU, ỐC VÀ NHỮNG TẤM LÒNG.
“Tôi quan tâm… bởi tôi đã từng được quan tâm”

Đến Củ Chi dò đường tìm hỏi nhà thầy Nguyễn Văn Cải, chúng tôi không ngạc nhiên lắm khi thấy người dân ở ấp Phước An, xã Phước Thạnh dọc tỉnh lộ 7 ai ai cũng biết về thầy. Bởi lẽ ở vùng quê nghèo này, thầy chính là một tấm gương sáng về lòng hiếu thảo và tinh thần hiếu học.

Gặp thầy Cải vào thời điểm chuẩn bị cho năm học mới thật khó bởi bao công việc cứ vây quấn lấy thầy. Thầy giáo Cải hiện là giáo viên dạy văn của trường Quang Trung, huyện Củ Chi, ngôi trường nằm ở vùng sâu nhưng tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp vừa qua đạt 98,61%.

Người học trò nghèo hiếu thảo

Ngay từ lúc lọt lòng đã không biết mặt ba là ai, mẹ lại mắc bệnh tâm thần. Cải sống cùng mẹ và chị trong căn chòi lá của bà cố để lại ở tổ 2, ấp Lào Táo Trung, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Có thể nói tuổi thơ của Cải là sự tiếp nối của chuỗi tháng ngày dài cơ cực, vất vả và thiếu thốn. Chị gái đã phải nghỉ học khi vừa lên lớp năm để đi làm thuê kiếm sống. Riêng Cải tuy vất vả với bao công việc để kiếm tiền xoay xở áo cơm nhưng quyết tâm học để sau này giảm bớt cái nghèo cho gia đình. Sáng nhổ mạ, cấy lúa; chiều trỉa đậu, nhổ đậu; mùa hè đêm ngủ ngoài đồng, đi chăn vịt mướn, là một trong số những “nghề” mà cậu bé Cải trải qua trong tuổi thơ của mình.

Yêu nghề giáo từ một kỷ niệm


Trong buổi giao lưu với các em học sinh, thầy giáo Nguyễn Văn Cải luôn bồi hồi khi nhắc đến những kỷ niệm tuổi thơ nghèo khó và hình ảnh cô giáo Hằng tận tâm lo cho mình đi học
Trong cuộc đời khốn khó, Cải có những cột mốc, những sự kiện tạo nên những bước ngoặt khiến anh không thể nào quên.

Sinh năm 1977nhưng đến năm 1980 Cải mới vào lớp một. Do mẹ bệnh Cải phải học trễ ba năm. Vậy mà đến khi chuẩn bị lên lớp bốn, cơ hội để Cải đến trường hầu như… bế tắc khi thì mẹ trở bệnh nặng, chị gái cũng vì bệnh mà thất nghiệp.

Cải bồi hồi nhớ lại: "Tôi nhớ như in cái ngày tựu trường năm lớp 4, tôi không đến trường mà nằm ở nhà khóc sưng mắt. Buồn lắm, nhưng chị bệnh, mẹ bệnh, cả gia đình phải thường xuyên ăn củ mì, rau chóc, rau chồn, gạo còn không có ăn thì lấy đâu ra tiền để đóng học phí. Ngày nhập học, đó là ngày 04.09, không thấy cậu học trò Nguyễn Văn Cải đến lớp, cô Trần Thị Hằng - chủ nhiệm mới, sau khi tìm hiểu hoàn cảnh đã nhắn tôi đến trường. Cô dùng tiền lương để đóng học phí cho tôi, mua thiếu dụng cụ học sinh cho tôi. Cô lại mượn (lẽ ra phải mua hoặc thuê) sách giáo khoa của trường cho tôi học …”

Anh kể tiếp: “Cô giáo Hằng là hàng xóm của tôi. Tôi biết nhà cô nghèo, chồng thất nghiệp. Cô phải một buổi đi dạy, một buổi đi làm thuê nuôi chồng, con. Kể từ lần được cô giúp đỡ, tôi như được “đổi đời”, không có cô chắc tôi đã phải nghỉ học”.

Hình ảnh cô giáo Hằng cao đẹp đã thắp lên trong lòng Cải tình yêu nghề sư phạm sâu sắc. Kể từ giây phút đó, Cải tâm nguyện phải học cho thật giỏi, lớn lên làm giáo viên để giúp đỡ học sinh gặp khó khăn như cô Hằng đã từng giúp anh. Lòng anh  tự nhủ phải học và học với quyết tâm sắt đá.

Mười năm học bên ngọn đèn dầu và đậu ba trường đại học

Kể về Cải của ngày xưa, thầy Lê Đình Hoe, hiệu trưởng trường THPT Quang Trung, từ năm 1989 đến nay, cho biết: “Đến giữa năm lớp 10, nhà trường mới phát hiện trường hợp khó khăn của Cải. Chúng tôi không thể nào kềm lòng trước hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của em. Mẹ thì bệnh tâm thần., chị đã lập gia đình nhưng cũng rất nghèo và mang bệnh. Cải phải làm đủ thứ việc để lo cuộc sống, vừa giúp mẹ, chị vừa nuôi bản thân ăn học. Khi chúng tôi đến thăm thì thấy Cải cùng gia đình phải dọn ra ở trong một mái nhà tranh nhỏ vì căn nhà tình thương của gia đình cũng sắp sập. Trong nhà hoàn toàn không một vật dụng nào đáng giá. Cải phải sử dụng cái giường đóng nẹp tre làm bàn học. Chỗ ở của em không phải là nhà mà là cái chòi thì đúng nghĩa hơn. Trong khi mọi hộ gia đình chung quanh đều có điện sử dụng thì gia đình Cải chỉ thắp đèn dầu, và Cải đã mười năm trời học tập dưới ánh đèn dầu đó”.


  
Nghe thầy Cải (thứ hai từ trái qua) kể về tuổi thơ vất vả mà thầy đã trải qua, các em học sinh trường THPT Bình Khánh đồng cảm nhiều với thầy vì phần lớn các em có hoàn cảnh khó khăn và phải lao động phụ giúp gia đình
Cảm thương người học trò giỏi, tuy nghèo mà hiếu học, các thầy cô trường Quang Trung bàn tính cách hỗ trợ. Nhân dịp trường thay đường dây mới, nhà trường đã lấy dây cũ, mua bóng đèn và các thiết bị cần thiết đồng thời xin ban quản lý ấp miễn tiền điện thế chân để mang “ánh sáng” về cho Cải. Và cũng từ đó, Cải được nhà trường miễn 100% tiền học phí.

Thế rồi không phụ lòng đùm bọc, cưu mang của bà con lối xóm, của thầy cô, của bạn bè, Cải đã phấn đấu học tập và tham gia các hoạt động phong trào rất tích cực. Suốt 12 năm học phổ thông, Nguyễn Văn Cải luôn đạt học sinh giỏi và nhiều năm đứng nhất lớp và hai năm làm Bí thư Đoàn trường. Đến kỳ thi đại học, Cải đậu vào ba trường đại học: Trường đại học Sư phạm TPHCM , trường Đại học Luật và trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn.

Đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, Cải suy nghĩ nhiều lắm. Cuối cùng, Cải quyết định chọn đại học Sư phạm làm con đường đi cho mình. Hình ảnh cô giáo Hằng, chủ nhiệm năm lớp 4 cùng với tấm lòng cưu mang dạy dỗ của các thầy cô đã xây dựng nên trong tâm hồn và suy nghĩ của Cải sự cao quý của nghề dạy học. Cải quyết định sẽ tiếp bước con đường của thầy cô để trở thành một thầy giáo, sau này về dạy lại con em của quê hương mình như là cách đền đáp một phần công lao của thầy cô đã giúp đỡ cho anh từ thời tiểu học.

 

Trò chuyện với các em học sinh trường Trung Phú - Củ Chi, những tâm tình của thầy Cải được các em cảm nhận sâu sắc "phải học thật tốt để mai này làm việc góp sức xây dựng Củ Chi anh hùng của chúng ta tiến bộ cùng sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh"
Cuộc đời của Cải bắt đầu một trang mới. Anh rời làng quê với lòng quyết tâm đi tiếp con đường mà mình mơ ước. Hành trang theo anh là kí ức về những năm tháng nhọc nhằn không bao giờ có thể quên và những tấm lòng nhân ái đã luôn nâng đỡ mỗi khi anh sắp gục ngã. Lúc ấy có nhiều bài báo đã viết về anh như một tấm gương điển hình của tinh thần vượt khó học tập. Nhà báo Tố Oanh gọi “Nguyễn Văn Cải - lớn lên từ rau, ốc và những tấm lòng”. Báo Người Lao Động lại viết về anh “Cậu bé chăn trâu với ước mơ trở thành thầy giáo”. Tất cả những sự ví von, hình ảnh đó đều đúng với anh. Anh đã từng trải qua thời kì nhiều ngày không có gì để ăn. Cả gia đình phải ăn độn bằng rau chốc, rau chồn với khoai mì và cua đồng… để trừ cơm. Được hàng xóm cho một tô cơm cháy chị anh đã nghĩ ra cách dùng tô cơm ấy nấu cháo để cả gia đình cùng ăn. Và cũng những năm tháng còn là cậu học sinh tiểu học Cải đã đi ở đợ, chăn trâu, kiếm miếng cơm bỏ bụng.

Rời làng quê nhưng anh luôn mong ngày trở lại để thực hiện những gì mình đã tâm niệm, để báo đáp những tấm lòng mà từ đó anh lớn lên.

Trở về mái trường xưa…

 
Thầy giáo Nguyễn Văn Cải (trái) và thầy hiệu trưởng trường THPT Quang Trung

Để đến được cổng trường tiểu học và trung học đối với Cải đã là vô cùng cam go nhưng để đi hết được những năm tháng đại học Cải ại càng cơ cực gấp bội phần. Lúc Cải học đại học, mẹ lại trở bệnh. Được sự giúp đỡ của đồng chí Nguyễn Hoàng Năng, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, mẹ Cải đã được vào bệnh viện Biên Hòa chữa bệnh không tốn tiền.

Kể về những tháng năm ngồi ghế giảng đường, thầy giáo Cải cho biết: “Tôi cảm thấy may mắn hơn các bạn khác bị tật nguyền, mồ côi vất vả không nơi nương tựa, không được đến trường. Năm 1999, tôi vào đại học, thông qua Đoàn trường Quang Trung và Sở Giáo dục - Đào tạo có giới thiệu nhận học bổng khuyến tài của thành phố, khi ấy có năm sinh viên được nhận 1.200.000đ/học bổng và cấp trong suốt quá trình học đại học. Khi vào đại học, anh chị phân công tôi là Phó Bí thư Đoàn trường kiêm chủ tịch Hội sinh viên. Ngoài việc học tập, nghiên cứu khoa học, tôi cũng tham gia phong trào tổ chức xây dựng Đoàn, Hội; quan tâm đến việc giúp đỡ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Tôi được đi học là từ tập thể thầy cô, bạn bè. Cho nên, khi đi học,  tôi có thể làm được cái gì cho tập thể là sẽ làm hết sức mình. Khi tốt nghiệp đại học, nhiều nơi mời gọi làm việc nhưng tâm nguyện của tôi, ở nơi nào mình cũng làm công tác giáo dục, ở nơi nào mình cũng có điều kiện giúp đỡ học trò. Tôi nghĩ, quê mình còn nghèo lắm, còn rất nhiều các em học sinh gặp khó khăn nên tôi quyết định quay về ngôi trường xưa Quang Trung, để cùng với thầy cô cũ làm công tác giúp đỡ các bạn nghèo có điều kiện đến trường”.

Thế là gạt bỏ tất cả những lời mời, những cơ hội mang đến cuộc sống thoải mái hơn cho mình, người học trò nghèo Nguyễn Văn Cải, bây giờ là thầy giáo Nguyễn Văn Cải, trở về mái trường xưa, ngôi trường Quang Trung ở huyện Củ Chi, để mong cống hiến sức mình cho nơi đã yêu thương đùm bọc mình.

Ngay năm đầu tiên về, thầy Cải vừa dạy Văn vừa làm trợ lý thanh niên. Tiếp nối truyền thống của thầy cô về việc giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học cũng như qua sự trải nghiệm bản thân vươn lên từ nghèo khó, Cải đã thành lập Câu lạc bộ Khuyến tài cho Hội Khuyến học TPHCM cũng như tham mưu trực tiếp cho thầy Lê Đình Hoe, hiệu trưởng trường Quang Trung thành lập Hội Khuyến học trường THPT Quang Trung.

Chính thức thành lập vào tháng 12-2002, Hội Khuyến học trường THPT Quang Trung là Hội Khuyến học cấp trường đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh. Đây là ngôi trường chăm lo các em học sinh nghèo hiếu học từ sự vận động các Mạnh Thường Quân, kể cả du học sinh ở nước ngoài và thầy Nguyễn Văn Cải là một trong những người nhiệt huyết nhất của Hội.

Thầy Cải tâm sự: “Từ lúc còn là học trò, tôi đã quan tâm đến việc giúp bạn vượt khó. Có phong trào này sẽ giúp các bạn khó khăn cùng vươn lên như tôi. Nếu không có sự hỗ trợ này các em sẽ bỏ học ngay thời phổ thông. Kết quả bước đầu cho thấy, nhờ sự hỗ trợ của Hội khuyến học nhà trường, nhiều em vượt qua khó khăn, thi đỗ vào đại học như: Trần Thị Liên, Trần Lê Trung Hiếu... “.

Mô hình Hội Khuyến học cấp trường đầy ý nghĩa và mang tính thiết thực này đã nhận được sự ủng hộ rất lớn từ thầy cô, cán bộ trong nhà trường đến các Việt kiều, các tổ chức trong và ngoài nước, các nhà hảo tâm khi biết được thông tin qua báo chí. Kể từ khi thành lập (năm 2002) đến nay,  Quỹ đã xây dựng được 13 căn nhà tình thương dành cho học sinh nghèo của trường, cấp học bổng hơn 500 triệu đồng cho khoảng năm trăm học sinh, tặng 20 chiếc xe đạp và dụng cụ học tập, quà lễ, tết….Đó chính là nguồn động viên tinh thần để cho các em có hoàn cảnh khó khăn an tâm học tập tốt.

Trở về trường xưa, thầy giáo Nguyễn Văn Cải không chỉ chăm lo cho hoạt động chuyên môn mà còn rất nhiệt tình, năng nổ tham gia mọi hoạt động để xây dựng trường, chăm lo cho các em học sinh. Giảng dạy rất tốt, hai năm liền là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và ngành, nhiều năm liền được Trung ương Đoàn tặng bằng khen, là Đảng viên trẻ của chi bộ trường.

Trả lời câu hỏi của Bí thư Đoàn trường Nguyễn Huệ, thầy giáo Cải cho biết nỗi trăn trở của mình trước tình trạng các bạn học sinh không tha thiết với hoạt động Đoàn. Thầy chân thành cho biết mình đã được tiếp sức rất nhiều và trưởng thành nhờ có các hoạt động Đoàn
Nói về người học trò xưa, nay đã là đồng nghiệp, thầy hiệu trưởng đã không giấu được niềm tự hào của mình: “Sinh hoạt trường, chúng tôi thường lấy tấm gương của thầy Cải để các em học sinh noi theo. Đây là tấm gương mà theo tôi là hiếm thấy và cần nhân rộng. Vì nếu có nhiều em học sinh nghèo khó như Cải mà biết vươn lên trong học tập, cố gắng vươn lên là điều quý cho xã hội, cho đất nước”.

Thầy giáo Nguyễn Văn Cải được bình chọn là Gương Công dân trẻ thành phố 300 năm; Thanh niên tiên tiến thành phố Hồ Chí Minh ba năm liền; Học trò giỏi hiếu thảo miền Đông Nam bộ; Báo cáo điển hình Người tốt việc tốt cấp thành phố năm 1998; Một trong 50 Gương Sao tháng Giêng toàn quốc đầu tiên do Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tuyên dương năm 2000; Một trong “50 Gương hiếu thời nay” – chân dung học trò giỏi hiếu thảo của báo Tuổi Trẻ.

Sau những năm tháng bền chí vượt qua mọi gian khó, Cải đã tìm thấy hạnh phúc, niềm vui cho mình. Bên Cải ngày nay có người vợ hiền phụ anh chăm sóc mẹ, cùng anh vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và hai đứa con ngoan. Cải tuy buồn về người chị bị bệnh ung thư vừa qua đời gần giáp năm nhưng bù đắp lại cho anh là niềm vui vì sức khỏe của mẹ anh đã hồi phục được 90%, tinh thần minh mẫn, Cải đang chăm sóc mẹ để mẹ được sống yên vui trọn những tháng ngày còn lại. Và Cải vẫn còn rất nhiều tâm nguyện, nhiều kế hoạch để thực hiện với mong muốn mang lại càng nhiều càng tốt những cơ hội học tập cho các em học sinh nghèo hiếu học.

Cuộc đời của anh ngày xưa là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần vượt khó, việc làm của anh ngày nay là tấm gương cho cái tâm sống vì mọi người. Chúng tôi tin rằng anh sẽ thành công và hạnh phúc trên con đường mà anh đã chọn.

Chia tay thầy giáo Nguyễn Văn Cải trong khi trời vẫn còn mưa bay bay. Chúng tôi càng khâm phục hơn một người con chí hiếu, một trò giỏi vượt khó, một thầy giáo gương mẫu… và chợt nghĩ, đất nước ta còn nghèo tuy đã gia nhập với thế giới nhưng “để sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Bác Hồ mong muốn, thế hệ trẻ cần trang bị kiến thức và tinh thần vượt khó để vươn lên. Tấm gương của thầy giáo Nguyễn Văn Cải tuy nghèo nhưng hiếu học thi đỗ vào ba trường đại học và những tấm gương vượt khó khác đã dệt nên những câu chuyện cổ tích thời hiện đại sẽ là những câu chuyện được kể mãi cho những  thế hệ học sinh tiếp nối sau.

Viết xong nhân ngày khai giảng năm học mới 2007 - 2008.

(Trích từ www.noiket.com.vn)

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Chi Đoàn Trường THCS Tân Thới Hòa quyết tâm học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại